TRANG CHỦ TIN TỨC-HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN NỘI BỘ
Khách trực tuyến :211  
Số lượt truy cập : 1311093
VẤN ĐỀ SỬ DỤNG THUẬT NGỮ KHOA HỌC LIÊN QUAN ĐẾN CÔN TRÙNG TRONG TIẾNG VIỆT

VẤN ĐỀ SỬ DỤNG THUẬT NGỮ KHOA HỌC
LIÊN QUAN ĐẾN CÔN TRÙNG TRONG TIẾNG VIỆT.

GS.TS Phạm Văn Lầm.

Yêu cầu của một thuật ngữ khoa học chuyên ngành
Một thuật ngữ khoa học cần đáp ứng 4 yêu cầu sau:
* Tính khoa học: Mỗi thuật ngữ khoa học phải diễn tả một khái niệm, một quá trình, một hiện tượng/sự vật cụ thể của môn khoa học sử dụng thuật ngữ đó. Thuật ngữ khoa học mới phải diễn tả khái niệm mới hoàn toàn và hợp lệ với môn khoa học của thuật ngữ đó. Deborin (1957) đã viết: “Cần nhớ kỹ rằng thuật ngữ khoa học không đơn thuần là từ ngữ mà là bản chất của chính hiện tượng khách quan, bản chất của bản thân khoa học”.
* Tính chính xác: Các thuật ngữ khoa học luôn mang tính chính xác về từ ngữ, rõ ràng, cặn kẽ và nghiêm túc trong diễn tả và định nghĩa. Mức chính xác của thuật ngữ phải thể hiện đúng nội dung khái niệm khoa học một cách rõ ràng, rành mạch. Một thuật ngữ chính xác tuyệt đối không làm cho người nghe, người đọc hiểu sai hoặc hiểu nhầm từ khái niệm này sang khái niệm khác. Thí dụ, các loài Cocus viridis Green và Cocus hesperidum L. thuộc họ rệp sáp mềm Coccidae. Một số tác giả gọi loài thứ nhất là rệp vảy xanh và loài thứ hai là rệp vảy nâu. Gọi như vậy sẽ  làm cho người đọc ngầm hiểu những loài này thuộc họ rệp sáp vảy (Diaspidiae). Loài Spodoptera exigua từ lâu được gọi là sâu keo da láng, nay có tác giả gọi là sâu xanh da láng và ngầm hiểu sâu xanh nghĩa là cùng giống với sâu xanh Helicoverpa armigera nên đã ghi cho sâu keo da láng cái tên không đúng là H.exigua ?
Để đảm bảo mức chính xác, trong cùng một môn khoa học nói chung và trong côn trùng học nói riêng nên cố gắng tránh những hiện tượng trùng thuật ngữ (đồng âm, khác nghĩa). Có lẽ nên theo nguyên tắc: Mỗi khái niệm có một thuật ngữ và mỗi thuật ngữ chỉ có một khái niệm, mỗi loài côn trùng chỉ có một tên tiếng Việt và mỗi tên tiếng Việt chỉ ứng với một loài côn trùng. Điều này không có nghĩa là bỏ hiện tượng đồng âm, khác nghĩa giữa các môn khoa học khác nhau.
* Tính dân tộc: Để xây dựng một nền khoa học mang tính Việt Nam phải chú ý tới tính dân tộc của các thuật ngữ khoa học. Muốn thuật ngữ chuyên ngành có tính khoa học về nội dung, có tính dân tộc về hình thức thì phải dùng ngôn ngữ tiếng Việt. Thí dụ, thuật ngữ “pheromone” có thể chuyển sang tiếng Việt dễ dàng là “chất dẫn dụ”. Vậy nên dùng là “chất dẫn dụ”, không dùng là “Pheromone”. Thuật ngữ “antifeedant” có thể gọi là “chất gây ngán ăn”, không nên dùng “antifeedant” trong tài liệu tiếng Việt v.v…Đề cao tính dân tộc của thuật ngữ khoa học và giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt trong hệ thống thuật ngữ khoa học không có nghĩa là loại bỏ tất cả những thuật ngữ Hán - Việt và thuật ngữ gốc nước ngoài đã được Việt hóa. Chúng ta tiếp thu “tinh hoa văn hóa nhân loại” để “xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”.
* Tính đại chúng: Khoa học phát triển để phục vụ quần chúng lao động. Muốn khoa học dễ dàng đi vào quần chúng lao động thì thuật ngữ chuyên ngành phải có tính đại chúng. Tài liệu khoa học với thuật ngữ “kiêu kỳ”, phức tạp sẽ khó được phổ biến rộng rãi.
Thuật ngữ khoa học có tính đại chúng là thuật ngữ dễ nhớ, dễ hiểu đối với mọi người trong cùng chuyên môn và tất cả những ai muốn tìm hiểu về môn khoa học đó. Tuy nhiên tính đại chúng của thuật ngữ khoa học không đồng nghĩa với việc dùng từ địa phương để diễn tả các khái niệm, hiện tượng khoa học.
Những bất cập của thuật ngữ khoa học về côn trùng trong tiếng Việt hiện nay:
* Tên của một loài côn trùng bằng tiếng Việt chưa được gọi thống nhất
Sự chưa thống nhất gọi tên một loài côn trùng bằng tiếng Việt giữa các nhà nghiên cứu côn trùng là nổi cộm nhất. Sâu đục thân lúa còn gọi là “sâu nách”, “sâu tim”. Côn trùng bộ Thysanoptera được gọi là bộ “cánh tơ”, “bọ trĩ”, “bù lạch”. Loài Spodoptera exigua được gọi là “sâu xanh da láng”, “sâu keo da láng”, “sâu hại củ cải”. Côn trùng họ Aleyrodidae (Homoptera) từ lâu được gọi tên là “bọ phấn” nay được gọi là “ruồi trắng”, “Rầy phấn trắng”, “rầy trắng”. Loài Laodelphax striatellus (Fall) được gọi là “rầy nâu nhỏ”, “rầy xám”, “muội xám”. Loài Planococcus citri (Risso) được gọi là “rệp sáp giả cam”, “rệp sáp mềm cam”, “rệp sáp hại khoai tây”, “rệp sáp giả”, “rệp sáp mềm”, “rệp sáp hại gốc”, v.v…
Điều đáng nói hơn là sự chưa thống nhất gọi tên một loài côn trùng lại thấy ở ngay trong cùng một tài liệu của cơ quan chuyên ngành về BVTV. Những loài côn trùng hại quá quen biết, phổ biến và đã có tên tiếng Việt được lưu truyền rộng rãi trong tài liệu BVTV, nhưng nay lại được gọi với các tên khác đi. Loài Agrotis ypsilon đã được gọi là “sâu xám” nay gọi tên là “sâu xám hại ngô”, “sâu xám hại khoai tây”. Loài Spodoptera litura trước nay gọi là “sâu khoang” nay được gọi là “sâu khoang hại đậu tương”, “sâu khoang hại thuốc lá”. Loài Helicoverpa armigera trước nay gọi là “sâu xanh” nay được gọi là “sâu xanh đục quả cà chua”, “sâu xanh hại thuốc lá”, “sâu xanh hại bông”. Điều này giống như đã đặt tên đường phố là “Trần Hưng Đạo A” và “Trần Hưng Đạo B”.v.v…
* Nhiều loài côn trùng được gọi bằng tiếng Việt với các tên không chính xác, không đúng với thuộc tính của loài. Thí dụ, các loài thuộc họ bọ hung (Scarabaeidae) được gọi là bọ rầy. Các loài cánh cứng ngắn Paederus fuscipes (họ Staphylinidae) và Ophionea indica (họ Carabidae) đều được gọi là “kiến ba khoang”. Trong khi đó thuật ngữ “kiến” được dùng để gọi tên các côn trùng họ Formicidae (bộ Hymenoptera).
* Dùng các thuật ngữ một cách tùy tiện. Trong cùng một bài viết, virus gây bệnh thối nhũn cho côn trùng thuộc nhóm NPV đã được dùng với các tên như “virus đa nhân”, “virus đa nhân đa diện”, “virus đa diện”, “virus đa diện đa nhân” và “virus hạch nhân”. Sâu và bệnh là hai phạm trù khác nhau, không thể dùng thuật ngữ “bệnh rầy nâu” hay “bệnh sâu cuốn lá”,v.v…
* Ưa mượn tên nước ngoài. Việc mượn thuật ngữ nước ngoài là điều không tránh khỏi đối với những môn khoa học chưa được phát triển hoặc môn khoa học mới. Tuy nhiên ngay đối với những trường hợp như vậy, người ta cũng chỉ mượn những thuật ngữ chuyên môn mà trong ngôn ngữ bản xứ không có thuật ngữ tương đồng. Còn khi ngôn ngữ bản xứ có thuật ngữ tương đồng thì đều được sử dụng thuật ngữ bằng ngôn ngữ bản xứ. Tuy nhiên, ở nước ta nhiều nhà nghiên cứu côn trùng ưa dùng thuật ngữ nước ngoài hơn. Bore chỉ các loài sâu hại đục vào bên trong thân cây và có thuật ngữ tiếng Việt là “sâu đục thân”, nhưng vẫn được dùng là “sâu bore”. “Pheromone” và “Sex Pheromone” có thuật ngữ tương đồng bằng tiếng Việt (tương ứng) là “chất dẫn dụ” và “chất dẫn dụ giới tính” những vẫn được dùng là “Pheromone” và “Sex Pheromone” ?
* Gọi côn trùng bằng từ địa phương rất khó hiểu. Dùng từ “bù lửa” để gọi bọ trĩ hại lúa, “sâu nách” để gọi sâu đục thân lúa…
Vấn đề nổi cộm khi chuyển các thuật ngữ côn trùng từ tiếng Anh sang tiếng Việt
* Không hiểu đúng thuật ngữ tiếng Anh dẫn đến dịch sai tài liệu. Thật đáng tiếc, do không hiểu đúng thuật ngữ chuyên ngành cũng như bản chất của hiện tượng/sự vật hay khái niệm mà thuật ngữ đó diễn tả nên đã dịch sai ý của bản gốc. Cuốn sách “ Nông nghiệp bền vững cơ sở và ứng dụng” (NXB Nông nghiệp, 1995) đã đưa ra khuyến cáo không đúng như sau: “Có thể thu thập các loại côn trùng có hại trộn vào nhau và giã trong cối để 1- 2 ngày tạo ra những loại vi sinh vật gây bệnh rồi đem phun. Nơi bị sâu róm hay sâu keo phá hoại có thể nghiền ngay sâu sống hay sâu chết hòa với nước lã phun lên cây bị hại; các loài vi khuẩn hay nấm mốc trong cơ thể sâu bị nghiền nát sẽ sinh nở ra và diệt các sâu còn lại” (trang 124, dòng 4 - 10). Sách “Những người bạn của nông dân…” có những chỗ dịch chưa chuẩn xác như sau: “use of broadspecchum pesticides” đã dịch là “dùng thuốc trừ sâu một cách rộng rãi”; “The Strepsiptera are minute,… parasites related to beetles” đã dịch là “Bọ cánh cuốn là những ký sinh nhỏ,… gần giống bọ rùa”, v.v…
* Chuyển thuật ngữ tiếng Anh sang tiếng Việt không theo cấu trúc ngữ pháp. Tiếng Anh có các thuật ngữ “Biological control”, “Chemical control”,… Tất cả các thuật ngữ trên từ đứng đầu là tính từ, từ thứ hai là danh từ. Như vậy khi chuyển sang tiếng Việt cũng phải đảm bảo đúng chức năng ngữ pháp của chúng, nghĩa là tính từ có vai trò làm rõ nghĩa cho danh từ. Các thuật ngữ tiếng Anh đã nêu trên đã được chuyển thành thuật ngữ tiếng Việt là “phòng trừ sinh học”, “phòng trừ hóa học”. Danh từ “sinh học”, “hóa học” đi ngay sau cụm từ “phòng trừ” đã có cấu trúc tương tự như các thuật ngữ “phòng trừ rầy nâu”, “phòng trừ sâu cuốn lá”. Trong các thuật ngữ vừa nêu, “rầy nâu”, “sâu cuốn lá” là những đối tượng bị phòng trừ. Theo các suy luận này thì “sinh học”, “hóa học” đã trở thành đối tượng bị phòng trừ chứ không phải là hướng biện pháp  phòng trừ dịch hại. Các thuật ngữ “phòng trừ sinh học”, “phòng trừ hóa học” đã dịch từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt chưa đúng cấu trúc ngữ pháp. Để cho đúng thì các thuật ngữ này dịch là “phòng trừ bằng sinh học” và “phòng trừ bằng hóa học” hoặc chuyển thành thuật ngữ tương ứng là “biện pháp sinh học” và “biện pháp hóa học”.
* Chuyển thuật ngữ tiếng Anh sang tiếng Việt theo kiểu ghép nghĩa ở từ điển. Thí dụ: “White fly” (bọ phấn) được dịch là ruồi trắng. Nếu dịch theo kiểu này thì các thuật ngữ “dragon fly”,  “saw fly”, “ichneumon fly” tương ứng sẽ được dịch là “ruồi rồng”, “ruồi cưa” và “ruồi ong cự” ???
* Chuyển thuật ngữ tiếng Anh sang tiếng Việt chỉ theo nghĩa ghi trong từ điển mà không nắm được bản chất của sự vật/hiện tượng mà thuật ngữ đó biểu thị. Thí dụ loài Coccus viridis (Green) có một trong các tên tiếng Anh là “green coffee scale” đã dịch theo nghĩa từ điển là “rệp vảy xanh”/ “rệp sáp vảy xanh” (vì nghĩa của từ “scale” ghi trong từ điển là “vảy”). Về bản chất, loài Coccus viridis (Green) thuộc họ rệp sáp mềm (Coccidae), chứ không thuộc họ rệp sáp vảy (Diaspididae), nên phải dịch là “rệp sáp mềm xanh” mới đúng. Từ “scale” dùng trong tài liệu côn trùng cần dịch theo từng ngữ cảnh cụ thể. Thuật ngữ “scale insects” được dùng để chỉ côn trùng thuộc tổng họ rệp sáp “Coccoidae”. Theo nghĩa từ điển thì thuật ngữ này sẽ dịch là “côn trùng vảy”.
* Chuyển thuật ngữ tiếng Anh sang thành tên khoa học của côn trùng. Trong tiếng Anh, thuật ngữ “thrips” để chỉ côn trùng bộ Thysanoptera, “psyllids” chỉ họ côn trùng họ Psyllidae, “aphids” để chỉ côn trùng họ Aphididae,… Một số nhà nghiên cứu côn trùng đã ghi sang tiếng Việt các tên khoa học như sau Aphids sp. để chỉ một loài rệp muội; Thrips sp để chỉ một loài bọ cánh tơ; Psyllids sp. để chỉ một loài thuộc họ Psyllidae. Trong họ rệp muội chỉ có giống Aphis, không có giống Aphids, trong họ Psyllidae không có giống Psyllids mà chỉ có giống Psylla. Trong họ Thripidae có giống Thrips, nhưng tài liệu tiếng Anh ghi “thrips” là chỉ chung cho nhiều loài thuộc bộ Thysanoptera chứ không phải cho các loài thuộc giống Thrips.

Nguyễn Hồng Thủy - trích đăng.


  Nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phân bón
  Quyết định số 3435/QĐ-BNN-BVTV ngày 28/8/2018
  Thống báo số 451/TB-TrT ngày 31/8/2018 của Chi cục Trồng trọt và BVTV về tình hình sinh vật gây hại lúa vụ Mùa năm 2018 (đến ngày 31/8/2018)
  Chỉ thị 19/CT-UBND của UBND thành phố v.v tăng cường chỉ đạo phòng chống bệnh Lùn sọc đen bảo vệ sản xuất lúa vụ Mùa năm 2018
  Công điện 03/CĐ-SNN ngày 26.7.2018 của Giám đốc Sở Nông nghiệp và PTNT v/v chỉ đạo phun trừ rầy lưng trắng phòng chống bệnh lùn sọc đen, bảo vệ sản xuất lúa vụ Mùa 2018
  Công văn số 364.TrT-TV ngày 25.7.2018 v.v CĐ ptrừ RLT phòng chống bệnh lùn sọc đen hại lúa Mùa 2018
  Hội nghị Sơ kết công tác xây dựng Đảng 6 tháng đầu năm, phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2018
  Hội nghị sơ kết công tác 6 tháng đầu năm, triển khai nhiệm vụ công tác 6 tháng cuối năm 2018
  Xác nhận nội dung quảng cáo và đăng ký hội thảo phân bón
  Tiếp nhận bản công bố hợp quy giống cây trồng
  Cấp lại Giấy công nhận cây đầu dòng, vườn cây đầu dòng cây công nghiệp cây ăn quả lâu năm
  Công nhận cây đầu dòng cây công nghiệp, cây ăn quả lâu năm
  Cấp giấy Công nhận vườn cây đầu dòng cây công nghiệp, cây ăn quả lâu năm
  Cấp lại Giấy chứng nhận đủ điều kiện buôn bán phân bón
  Cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện buôn bán phân bón
  Quyết định 688 ban hành áp dụng Hệ thống QLCL tiêu chuẩn ISO 9001:2015 vào hoạt động quản lý hành chính nhà nước của Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật
  Quyết định số 68/QĐ-BVTV ngày 29/02/2016 v/v công bố Hệ thống quản lý chất lượng phù hợp Tiêu chuẩn quốc gia TCVN ISO 9001:2008
  Quyết định số 08/QĐ-BVTV ngày 08/01/2013 v/v công bố Hệ thống quản lý chất lượng phù hợp Tiêu chuẩn quốc gia TCVN ISO 9001:2008
  Nghị định 66/2016/NĐ-CP
  Nghị định 31/2016/NĐ-CP
  Ngày 10/6/2016 Bộ Bộ trưởng Bộ Nội vụ ban hành Thông tư hướng dẫn thực hiện mức lương cơ sở đối với các đối tượng hưởng lương, phụ cấp trong các cơ quan, đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội và hội.
  Ngày 26/5/2016, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định số 47/2016/NĐ-CP Quy định mức lương cơ sở đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang.
  V/v hướng dẫn thực hiện chế độ thai sản theo quy định của Bộ luật Lao động số 10/2012/QH13.
  Về việc gửi file điện tử hồ sơ trình giải quyết công việc
  Chỉ thị số 15/CT-TTg ngày 22/5/2012 của Thủ tướng Chính phủ


Công ty CP nữ hoàng Châu Á


Công ty NICOTEX

C.ty Arysta LifeScience Việt Nam